Phân tích Bài thơ về tiểu đội xe không kính – Phạm Tiến Duật

0
1372
phan-tich-bai-tho-ve-tieu-doi-xe-khong-kinh

“Bài thơ về tiểu đội xe không kính” là một trong số những tác phẩm thơ viết về chiến tranh tiêu biểu cần ôn tập trong số các tác phẩm văn học ôn thi vào 10. Nhằm giúp các bạn học sinh có thể hiểu sâu hơn về tác phẩm, trong bài viết này, cùng HOCMAI phân tích Bài thơ về tiểu đội xe không kính của tác giả Phạm Tiến Duật.

I. Thông tin về tác giả – tác phẩm

1. Tác giả: Phạm Tiến Duật

– Tên khai sinh: Phạm Tiến Duật

– Sinh năm 1941, mất năm 2007

– Quê quán: huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ

– Phạm Tiến Duật là một trong những gương mặt nhà thơ tiêu biểu thuộc thời kì chống Mĩ cứu nước

Tiểu sử và sự nghiệp sáng tác

Phạm Tiến Duật sinh ra trong một gia đình có cha là nhà giáo, còn mẹ làm ruộng, không biết chữ. Năm 1964, ông tốt nghiệp trường Đại học Sư phạm Hà Nội nhưng sau đó không tham gia giảng dạy mà quyết định lên đường nhập ngũ. 

Trong thời gian đi lính, ông chủ yếu sống và chiến đấu tại tuyến đường Trường Sơn. Đây cũng là thời gian rất nhiều tác phẩm nổi tiếng của ông được ra đời. Các tác phẩm của ông chủ yếu là thơ. Nhiều bài thơ của ông đã được phổ nhạc, trong đó tiêu biểu nhất là bài “Trường Sơn đông, Trường Sơn tây”.

Từ những tác phẩm thơ mang đậm hình ảnh bộ đội chống Mỹ, Phạm Tiến Duật đã được ca tụng là “con chim lửa của Trường Sơn” hay “cây săng lẻ của rừng già” hay “nhà thơ lớn nhất thời chống Mỹ”. Bởi lẽ thơ ông được đánh giá là “có sức mạnh của một sư đoàn”, có tác dụng thôi thúc ý chí chiến đấu của người lính trên mặt trận đầy cam go, thử thách khó khăn.

Sau giải phóng, ông tiếp tục làm thơ dựa trên chính những trải nghiệm của mình về ranh giới giữa sự sống và cái chết trên chiến trường. Điển hình trong số đó là tập thơ “Tiếng bom và tiếng chuông chùa”, xuất bản năm 1997, viết về những nữ bộ đội trở về từ chiến trường, họ đi tu, làm thiện nguyện như một truyền thống đạo lý hết sức nhân văn của người Việt. 

Trong suốt sự nghiệp sáng tác, Phạm Tiến Duật đã sở hữu những tập thơ chính bao gồm:

  • Tập thơ “Vầng trăng quầng lửa” (1970)
  • Tập thơ “Ở hai đầu núi” (1981)
  • Tập thơ “Vầng trăng và những quầng lửa” (1983)
  • Tuyển tập thơ “Thơ một chặng đường” (1994)
  • Tập thơ “Nhóm lửa” (1996)
  • Trường ca “Tiếng bom và tiếng chuông chùa” (1997)

Phong cách nghệ thuật trong thơ Phạm TIến Duật: 

– Thơ Phạm Tiến Duật được giới nhà văn đánh giá cao và có nét độc đáo như: giọng điệu thơ sôi nổi, trẻ trung, vừa có cái “tinh nghịch”, vừa mang nhiều hàm ý sâu sắc. 

– Thơ ông tập trung thể hiện hình ảnh thế hệ trẻ trong cuộc kháng chiến chống Mĩ qua hình tượng người lính và nữ thanh niên xung phong trên tuyến đường Trường Sơn.

– Vừa tham gia chiến đấu trong vai trò người lính, vừa quan sát chiến tranh trong tư cách một phóng viên mặt trận khiến thơ Phạm Tiến Duật vừa mang hơi thở thời đại, vừa có khí phách ngang tàng, bụi bặm của người lính thời chống Mỹ. 

2. Tác phẩm Bài thơ về tiểu đội xe không kính lớp 9

a. Hoàn cảnh sáng tác Bài thơ về tiểu đội xe không kính

– “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” được viết năm 1969, sau đó được in trong tập thơ “Vầng trăng quầng lửa”, xuất bản năm 1970. Đây là giai đoạn cuộc kháng chiến chống Mỹ đang diễn ra cực kỳ khắc nghiệt ở cả hai miền Nam – Bắc.

– Hiện thực trong thời điểm ra đời bài thơ: từ 1959 đến 1975, nhờ tuyến đường Trường Sơn chúng ta đã vận chuyển được vào chiến trường miền Nam hơn một triệu tấn hàng và vũ khí nhưng đồng thời cũng bị máy bay Mỹ phá hủy gần 90 nghìn tấn hàng và 14.500 xe, máy. 

– Đường Trường Sơn trong những năm kháng chiến chống Mỹ, được xem là tuyến vận tải chiến lược, nối hậu phương miền Bắc với tiền tuyến miền Nam. Trên đường Trường Sơn, sự sống và cái chết rất mong manh, không ai có thể đếm xuể những khó khăn chồng chất: ngày thường thì gập ghềnh hiểm trở; vào mùa mưa, nước mưa trút xuống tựa như thác đổ; mùa khô thì bụi bay mù trời. Được ngày trời quang mây tạnh thì giặc Mỹ liên tục trút mưa bom xuống những đoàn xe của quân ta. 

– Tuy khó khăn là thế nhưng niềm tin chiến thắng và ý chí quyết tâm đã giúp những đoàn xe không kính vượt lên tất cả. Với người lính lái xe khi ấy, cung đường nào, chuyến xe nào cũng đầy ắp những kỷ niệm, mà có đi hết cả cuộc đời, họ cũng chẳng thể nào quên. 

– Lấy cảm hứng từ người lính lái xe và chiến tranh, Phạm Tiến Duật đã sáng tác “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” khi đang trực tiếp chiến đấu trên tuyến đường Trường Sơn

b.  Ý nghĩa nhan đề “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”

– Tác phẩm có nhan đề khá dài và đặc biệt: “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”. Nhan đề bài thơ tưởng chừng như có chỗ thừa nhưng lại thu hút người đọc bởi vẻ khác lạ và độc đáo. Tên bài thơ hay ở sức gợi: gợi chất thơ của cuộc sống nơi chiến trường. Đặc biệt, thông qua nhan đề, người đọc có thể hình dung ra đối tượng chính tác giả muốn nhắc tới: những chiến xe không kính. 

Mục đích của việc đưa hình ảnh “tiểu đội xe không kính” được đưa vào nhan đề bài thơ:

– Nhằm gợi tả hiện thực trên tuyến đường Trường Sơn trong những năm kháng chiến chống Mĩ cứu nước

– Đưa ra đối tượng tiêu biểu, tái hiện hiện thực  vô cùng gay go, khốc liệt của cuộc chiến.

– Ca ngợi vẻ đẹp của người lính lái xe với lòng dũng cảm, ý chí, nghị lực và sự kiên cường trong hành trình lái xe vượt Trường Sơn.

– Hai chữ “Bài thơ” làm nên sự đặc biệt trong nhan đề tác phẩm đã nói lên cách nhìn và cách khai thác hiện thực của tác giả: ngoài khơi gợi lại hiện thực tàn khốc của chiến tranh, ông muốn khai phá chất thơ từ hiện thực ấy, chất thơ có trong tâm hồn những người lính lái xe

– Nhan đề “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” không những giúp làm nổi bật chủ đề chính, mà còn thể hiện được cảm xúc ngợi ca, tự hào của tác giả về những người lính lái xe.

phan-tich-bai-tho-ve-tieu-doi-xe-khong-kinh-1

II. Bố cục Bài thơ về tiểu đội xe không kính

Bài thơ được chia thành 2 phần nội dung chính: 

– Phần I gồm 2 khổ thơ đầu: từ “Không có kính không phải vì xe không có kính…” đến “…Như sa, như ùa vào buồng lái”

Nội dung chính: Tư thế ung dung, hiên ngang của người lính khi lái những chiếc xe không kính

– Phần II gồm 6 khổ thơ còn lại: từ “Không có kính, ừ thì có bụi,…” đến “….Chỉ cần trong xe có một trái tim”

Nội dung chình: Hình tượng người lính lái xe trên đường Trường Sơn

Trong đó: 

– Khổ 3,4: Tinh thần lạc quan, sôi nổi và bất chấp khó khăn hiểm nguy của người lính: Hình ảnh những người lính lái xe là minh chứng rõ nét cho chủ nghĩa anh hùng cách mạng và thanh niên Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước

– Khổ 5,6: Tình đồng chí cao đẹp và tinh thần đoàn kết của người lính lái xe dọc Trường Sơn: Vượt qua hàng nghìn cây số lái xe trong mưa bom, bão đạn, những người lính tụ họp bên nhau để cùng tếu táo và ấm áp trong tình đồng đội, đồng chí. Chính tình cảm thiêng liêng này đã kết nối những trái tim lại với nhau, ủng hộ lẫn nhau trong hành trình dài phía trước.

– Khổ 7: Lòng yêu nước, ý chí chiến đấu và lý tưởng cách mạng của người lính: Thông qua hình ảnh thơ độc đáo, tác giả khắc họa hình ảnh người lính với một trái tim tràn đầy yêu thương, kiên trường, trái tim yêu nước, giúp người lính chiến thắng mọi đe dọa của kẻ thù. 

III. Phân tích Bài thơ về tiểu đội xe không kính

1. Phân tích khổ 1,2: Tư thế ung dung, hiên ngang của người lính khi lái những chiếc xe không kính

“Không có kính không phải vì xe không có kính

Bom giật, bom rung kính vỡ đi rồi

Ung dung buồng lái ta ngồi

Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng.

 

Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng

Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim

Thấy sao trời và đột ngột cánh chim

Như sa, như ùa vào buồng lái.”

– Từ xưa đến nay, những hình ảnh về xe cộ trong thơ ca thường được “mĩ lệ hóa” hoặc “lãng mạn hoá”, giàu ý nghĩa tượng trưng hơn là tả thực. Đọc giả có thể đã bắt gặp “chiếc xe tam mã” trong thơ Puskin, con tàu trong bài thơ “tiếng hát con tàu” của Chế Lan Viên, hay “đoàn thuyền đánh cá” trong bài thơ cùng tên của Huy Cận. 

Thế nhưng trong thơ Phạm Tiến Duật, “những chiếc xe không kính” lại hiện lên một cách hết sức chân thực, thực tế đến mức trần trụi qua hai câu thơ đầu: 

“Không có kính không phải vì xe không có kính

Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi.”

– Điệp từ “không” cộng với chất văn xuôi của thể thơ tự do, kết hợp cùng lối nói khẩu ngữ giúp mở ra một lời giải thích ngay từ đầu. Hai câu thơ dường như được viết ra nhằm thay cho lời thanh minh, phân bua của những người lính lái xe về hình ảnh bất thường của “những chiếc xe không kính”

– Hai câu thơ là tâm trạng xót xa, tiếc nuối của những người lính với chiếc xe của mình khi không còn nguyên vẹn, lành lặn như ban đầu

– Điệp ngữ “bom giật, bom rung” vừa giúp người đọc hình dung về một vùng đất từng được mệnh danh là “túi bom” của địch, vừa cho thấy được sự khốc liệt mà chiến tranh gây ra cho những chiếc xe tải

– Từ phủ định: “không có” và “không phải” đi kèm với các điệp ngữ “bom giật, bom rung” mang ý nghĩa khẳng định hiện thực tàn khốc mà chiến tranh đã gây ra. Đồng thời, chúng còn khiến câu thơ trở nên hùng tráng hơn, góp phần tăng thêm vẻ đẹp ngang tàn của những chiếc xe trong lần xuất hiện đầu tiên

=> Ngay từ hai câu thơ mở đầu bài thơ, tác giả đã làm hiện lên những chiếc xe vận tải quân sự mang trên mình đầy những thương tích gây ra bởi chiến tranh. Đó chính là bằng chứng rõ ràng cho sự tàn phá khủng khiếp mà quân đội Mỹ đã làm trên chiến trường Việt Nam

Sử dụng chất liệu từ cuộc chiến tranh khốc liệt ấy, Phạm Tiến Duật đã xây dựng hình ảnh những người lính lái xe Trường Sơn với tư thế hiên ngang, ngang tàng, sẵn sàng ra trận:

“Ung dung buồng lái ta ngồi

Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng”

– Biện pháp đảo ngữ, đưa tính từ “ung dung” lên đứng đầu câu giúp tạo nên sự bình thản, điềm tĩnh đến kỳ lạ của người lính lái xe

– “Nhìn thẳng” là cái nhìn chủ động, đầy tự chủ, bất khuất, bộc lộ những phẩm chất cao đẹp, đặc biệt là sự dũng cảm, hiên ngang của người lính. Họ nhìn thẳng vào gian khổ, không mảy may run sợ trước khó khăn, không thẹn với trời đất vì chính họ cũng đang chiến đấu vì một mục tiêu cao cả

– Điệp từ “nhìn” được lặp lại ba lần, kết hợp với nhịp thơ dồn dập, giọng điệu mạnh mẽ đã thể hiện tầm nhìn rộng, khoáng đạt của người lính giữa chiến trường

– Biện pháp liệt kê và điệp ngữ trong câu thơ “nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng” đã thể hiện tư thế vững vàng, hiên ngang của những người lính lái xe, sẵn sàng nhìn thẳng vào bom đạn, nhìn thẳng vào con đường đang bị bắn phá để lái xe vượt qua.

Tư thế hiên ngang, tinh thần lạc quan coi thường hiểm nguy của người lính lái xe ra trận được tô đậm qua những hình ảnh thiên nhiên:

“Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng

Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim

Thấy sao trời và đột ngột cánh chim 

Như sa, như ùa vào buồng lái.”

– Thay vì gói gọn trong không gian của chiếc xe tải không kính, tác giả đã mở rộng tầm nhìn ra một không gian rộng lớn hơn. Ở đó có những con đường dài, có gió thổi, có cánh chim và những ánh sao đêm. Phải chăng thiên nhiên nơi núi rừng Trường Sơn đang ùa vào buồng lái, gợi lên chất thơ trong tâm hồn những anh lính trẻ

Không gian rộng lớn của thiên nhiên được tác giả miêu tả thông qua:

– Điệp từ “thấy” và điệp ngữ: “nhìn thấy… nhìn thấy…” cùng giọng thơ hối hả đã gợi lên khung cảnh từng đoàn xe không kính nối đuôi nhau, vận chuyển nhu yếu phẩm từ Bắc vào Nam

– Biện pháp nhân hóa chuyển đổi cảm giác “vào xoa mắt đắng” nhằm thể hiện những hiểm nguy do thời tiết mà những người lính phải trải qua. Do xe không có kính nên không thể chặn gió. Gió thổi vào buồng lái làm “mắt đắng”. Thế nhưng, những anh lính vẫn dũng cảm, bất chấp khó khăn tiến về phía trước

– Hình ảnh “con đường chạy thẳng vào tim” thể hiện tốc độ phóng nhanh như bay của những chiếc xe. Chiếc xe không kính cùng với tốc độ cực nhanh của xe tạo đã rút ngắn khoảng cách giữa các anh với con đường, khiến người lính lái xe có cảm giác con đường đang chạy thẳng vào tim, hòa cùng dòng máu yêu nước chảy trong lồng ngực.

– Hình ảnh “sao trời” và “cánh chim” vốn là biểu tượng phân biệt hai trạng thái ban đêm và ban ngày. Câu thơ “thấy sao trời và đột ngột cánh chim” mang ý nghĩa từng đoàn xe nối đuôi nhau chạy không kể ngày đêm, cứ khi nào máy bay Mỹ ngừng bay thì quân ta sẽ hành quân

– Hình ảnh so sánh “như sa, như ùa vào buồng lái” một lần nữa nhấn mạnh tốc độ nhanh phi thường của tiểu đội xe không kính khi ra trận. Không những đường đi mà cả một bầu trời đêm cũng như ùa vào buồng lái.

=> Qua 2 khổ thơ đầu, tác giả đã gợi tả sinh động hiện thực chiến trường chính xác đến từng chi tiết. Hơn nữa, đằng sau đó còn là một khí chất, một bản lĩnh, thể hiện qua tư thế chiến đấu ung dung, hiên ngang của người lính trước sự khốc liệt của chiến tranh.

2. Phân tích khổ 3,4 bài thơ về tiểu đội xe không kính: Tinh thần lạc quan, sôi nổi và bất chấp khó khăn hiểm nguy của người lính

“Không có kính ừ thì có bụi

Bụi phun tóc trắng như người già

Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc

Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha

 

Không có kính, ừ thì ướt áo

Mưa tuôn, mưa xối như ngoài trời 

Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa 

Mưa ngừng, gió lùa khô mau thôi.”

Với tinh thần lạc quan, những người lính lái xe đã coi gian khổ, hiểm nguy nơi chiến trường trở thành một phần trong cuộc sống tại Trường Sơn. Điều này được thể hiện qua:

– Hình ảnh thơ “gió”, “bụi”, “mưa” là những hiện tượng thiên nhiên, thời tiết, đặc trưng cho những gian khổ, thử thách mà người lính phải đối diện

– Cấu trúc lặp: “Không có…, ừ thì…” lặp lại hai lần ở đầu hai khổ thơ, cùng với đó là kết cấu phủ định “Chưa cần…” đã thể hiện sự ngang tàn, thái độ coi thường hiểm nguy, bất chấp khó khăn, coi thường gian khổ của những chiến sĩ lái xe Trường Sơn

– Hình ảnh so sánh trong hai câu thơ “Bụi phun tóc trắng như người già” và “Mưa tuôn, mưa xối như ngoài trời” là cách nói phóng đại của tác giả nhằm nhấn mạnh sự khắc nghiệt của thiên nhiên nơi chiến trường, đồng thời cho thấy tinh thần lạc quan, dũng cảm tiến về phía trước của người lính Trường Sơn. Mặc cho bụi mưa phủ đầy trên tóc, trên áo, họ vẫn giữ một hướng đi, vẫn lái xe lao thẳng về phía trước.

– Trong sự khắc nghiệt của thiên nhiên, những người lính vẫn “phì phèo châm điếu thuốc”, cố gắng “lái trăm cây số nữa”. Đây là hình ảnh cho thấy sự thản nhiên, phong thái thờ ơ của người lính lái xe trước những thử thách phải trải qua trên tuyến đường Trường Sơn. 

=> Với ngôn ngữ giản dị đời thường, kết hợp cùng giọng điệu thản nhiên, hóm hỉnh, tác giả đã làm nổi bật niềm vui, tiếng cười của người lính giữa muôn vàn gian khổ, hiểm nguy của cuộc chiến đấu, cùng với đó là bản lĩnh, nghị lực phi thường

=> Hình ảnh tiểu đội xe không kính qua 2 khổ thơ trên là minh chứng rõ nét cho chủ nghĩa anh hùng cách mạng và thanh niên Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước

phan-tich-bai-tho-ve-tieu-doi-xe-khong-kinh-2

3. Phân tích khổ 5,6 Bài thơ về tiểu đội xe không kính: Tình đồng chí cao đẹp và tinh thần đoàn kết của người lính lái xe dọc Trường Sơn

“Những chiếc xe từ trong bom rơi

Đã về đây họp thành tiểu đội

Gặp bè bạn suốt dọc đường đi tới

Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi.

 

Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời

Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy

Võng mắc chông chênh đường xe chạy

Lại đi, lại đi trời xanh thêm.”

Vượt qua hàng nghìn, hàng vạn cây số lái xe trong mưa bom, bão đạn, những người lính lại gặp nhau để cùng tếu táo và ấm áp trong tình đồng đội, đồng chí. Chính tình cảm thiêng liêng này là sợi dây vô hình kết nối mọi người trong tình cảnh cái chết luôn rình rập

– Hình ảnh “Những chiếc xe từ trong bom rơi”: vừa tả thực về những chiếc xe không kính, mưa bom đạn chiến trường để trở về, vừa hàm ý nhấn mạnh sự bất khuất, ý chí chiến đấu kiên cường của những người lính lái xe

Ý nghĩa hình ảnh giàu sức gợi “Bắt tay nhau qua cửa kính vỡ rồi” :

– Thể hiện sự đồng cảm sâu sắc giữa những người lính khi trải qua những khó khăn như nhau mặc dù trên những cung đường khác nhau

– Hành động “bắt tay” có thể coi như những lời động viên ngắn ngủi mà họ dành cho nhau. Cái bắt tay ấy vừa mang lại sự an ủi, vừa là động lực kết nối những trái tim lại với nhau, ủng hộ lẫn nhau trong hành trình dài phía trước

Cuộc hội ngộ của tiểu đội xe không kính tuy ngắn ngủi mà thắm tình đồng đội: 

Qua những bữa cơm vội vàng dã chiến “giữa trời”, dùng chung bát, chung đũa đã vô hình giúp các chiến sĩ gần nhau hơn:

– Hình ảnh gia đình hiện lên mang đậm chất lính, vừa tếu táo mà vừa chân tình, sâu nặng. Vô tình nhờ những khó khăn, thiếu thốn đó, những người lính đã gắn bó với nhau như một gia đình thực thụ, giúp đỡ nhau trong cả chiến đấu lẫn đời thường

– Thời gian nghỉ ngơi tuy chỉ diễn ra thoáng chốc và bữa cơm “chung bát đũa” giữa đường xe chạy đã trở thành khoảnh khắc hạnh phúc hiếm hoi trên hành trình vượt Trường Sơn của những người lính. Từ đó xóa đi khoảng cách, giúp họ trở nên gần gũi, thân thiết, thậm chí là yêu thương nhau như ruột thịt.

– Từ láy “chông chênh” của chiếc võng chính là ẩn dụ cảm giác bấp bênh không bằng phẳng trên những tuyến đường mà xe đi qua. Ngay cả lúc nghỉ ngơi thì những chiến sĩ vẫn phải chịu sự bấp bênh, thiếu an toàn đó. Song, đối với họ, càng gian khổ thì ngày thắng lợi càng đến gần.

– Nghệ thuật ẩn dụ “trời xanh thêm” đã thể hiện tâm hồn sôi nổi và lạc quan của người chiến sĩ. Màu sắc xanh là biểu tượng của niềm tin, sự tin tưởng, là hi vọng vào ngày dân tộc chiến thắng, đất nước hoàn toàn giải phóng

– Điệp từ “lại đi, lại đi” và nhịp thơ 2/2/3 đã khẳng định đoàn xe sẽ khẩn trương tiếp tục đi về phía con đường gian khổ phía trước

=> Khổ thơ cho thấy nhịp sống sôi nổi và tinh thần chiến đấu kiên cường của tiểu đội xe không kính. Dù cho sức mạnh của giặc Mỹ có tàn bạo cỡ nào cũng không thể ngăn cản nổi ý chí chiến đấu của quân đội ta.

4. Phân tích khổ thơ cuối Bài thơ về tiểu đội xe không kính: Lòng yêu nước, ý chí chiến đấu và lý tưởng cách mạng của người lính

Bài thơ khép lại với bốn câu thơ thể hiện ý chí chiến đấu kiên cường của người lính lái xe Trường Sơn – đại diện cho thế hệ trẻ Việt Nam thời chống Mĩ với lý tưởng sống cao đẹp

“Không có kinh, rồi không có đèn

Không có mui xe, thùng xe có xước

Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước

Chỉ cần trong xe có một trái tim.”

Trong khổ thơ cuối, tác giả đã một lần nữa nhắc lại hình ảnh những chiếc xe không kính một cách chân thực và sinh động qua:

–  Biện pháp liệt kê những điểm không hoàn thiện của chiếc xe như: không kính, không đèn, không mui, thùng xe xước để nhấn mạnh sự thiếu thốn, không toàn vẹn của đoàn xe mang trong mình nhiệm vụ “xẻ dọc Trường Sơn cứu nước”.

– Điệp từ “không có” góp phần diễn tả sự khốc liệt và dữ dội mà chiến trường đã mang lại cho những chiếc xe: mưa bom đạn lạc khiến chiếc xe trở nên trơ trụi, thiếu những bộ phận cơ bản nhất của một chiếc xe bình thường.

– Sự trơ trụi và tàn phá của bom đạn tưởng chừng như đã khiến xe ngừng hoạt động. Nhưng điều kỳ diệu là những chiếc xe ấy vẫn bon bon trên đường ra trận, hoàn thành nhiệm vụ vận chuyển vũ khí, góp sức vào công cuộc giải phóng miền Nam thống nhất đất nước

– Sử dụng phép đối lập “không có” với “vẫn chạy” đã làm nổi bật sức mạnh, sự ngoan cường của người lính lái xe

– Câu thơ “Vì miền Nam phía trước” gợi nhắc đến niềm tin về ngày chiến thắng, ngày miền Nam giải phóng, thống nhất đất nước

 

Hình ảnh “trái tim” là một hoán dụ nghệ thuật sáng tạo của tác giả, nói lên chân lý sâu xa về sức mạnh của lòng yêu nước và lí tưởng cách mạng cao đẹp:

– Hình ảnh trái tim đã khẳng định phẩm chất cao quý của các người lính lái xe trên đường Trường Sơn. Các anh vừa giúp tiếp nối truyền thống anh hùng bất khuất của dân tộc Việt Nam, vừa trở thành hình tượng thanh niên tiêu biểu cho chủ nghĩa yêu nước của thế hệ chống Mỹ cứu nước

– Các bộ phận trên xe tuy thiếu và không còn nguyên vẹn nhưng “chỉ cần” một “trái tim” yêu nước nguyên vẹn thì xe vẫn hoàn toàn có thể băng băng ra trận, hoàn thành nhiệm vụ cao cả của mình

– Hình ảnh “trái tim” còn tượng trưng cho lòng dũng cảm, lòng yêu nước và sức mạnh của lòng yêu nước. Chính sức mạnh vô hình ấy đã lấp đầy những phần thiếu sót của chiếc xe, tạo động lực cho người lính vượt qua khó khăn, thử thách

– “Trái tim” của người lính tuy vô hình mà hữu hình, có thể thay thế cho mọi thứ, biến chiếc xe không kính như trở thành một cơ thể sống, hợp nhất với tâm hồn người chiến sĩ để tiếp tục hành trình dài phía trước. 

=> Hình ảnh “trái tim” khép lại bài thơ đã làm bừng sáng lên ý nghĩa của toàn bộ tác phẩm. Đó là một trái tim yêu thương, trái tim kiên trường, trái tim cầm lái, giúp người lính chiến thắng mọi đe dọa của kẻ thù. Và “trái tim” ấy cũng đã trở thành nhãn tự của bài thơ, để lại ấn tượng và cảm xúc sâu lắng trong lòng người đọc.

 

III. Tổng kết chung phân tích Bài thơ về tiểu đội xe không kính

1. Về nội dung Bài thơ về tiểu đội xe không kính

“Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của tác giả Phạm Tiến Duật đã thành công trong việc xây dựng hình tượng những người lính lái xe Trường Sơn trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ. Qua hình ảnh thơ đặc biệt là những chiếc xe không kính, tác giả đã khắc họa một cách chân thực hình ảnh những người lính lái xe với nhiều phẩm chất đẹp đẽ. Bất chấp khó khăn thử thách, những anh lính vẫn trong tư thế hiên ngang ra trận với một trái tim ấm nóng tình đồng đội, tình yêu nước nồng nàn.

2. Về nghệ thuật Bài thơ về tiểu đội xe không kính

– Thể thơ tự do, chất văn xuôi giúp câu thơ trở nên đời thường và dễ hiểu

– Sử dụng chất liệu hiện thực nơi chiến trường vừa nói lên trải nghiệm của tác giả, vừa là ca ngợi, tự hào về những đoàn xe không kính, “xẻ dọc Trường Sơn” cứu nước

– Ngôn ngữ đậm tính khẩu ngữ tự nhiên, đậm chất lính lái xe

– Giọng điệu ngang tàng pha chút hài hước, dí dỏm làm nổi bật thái độ coi thường gian khổ trong hoàn cảnh thiếu thốn và cái chết luôn cận kề của những chiến sĩ khi thực thi nhiệm vụ của mình.

Trên đây là toàn bộ nội dung phân tích Bài thơ về tiểu đội xe không kính của tác giả Phạm Tiến Duật. Ngoài ra, các bạn có thể tham khảo thêm bộ tài liệu Soạn văn 9 mà HOCMAI đã tổng hợp để phục vụ cho quá trình học ôn môn Ngữ Văn cũng phục vụ cho ôn thi học kỳ và ôn thi tốt nghiệp vào lớp 10. Hy vọng với những nội dung trên, các bạn học sinh đã có thêm sự tự tin trước các kỳ thi học kỳ cũng như kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 sắp tới!

 

Tham khảo thêm:

Phân tích bài thơ Đồng chí