Phân tích Kiều ở Lầu Ngưng Bích – Soạn Văn 9 HOCMAI

0
49440
phan-tich-kieu-o-lau-ngung-bich

Truyện Kiều của Nguyễn Du vốn được coi là là một trong những kiệt tác thơ ca trong nền văn học trung đại Việt Nam. Trong đó, trích đoạn Kiều ở lầu Ngưng Bích cũng là một trong số những phân đoạn có nhiều nội dung đáng phân tích nhất trong chương trình học, gây khó khăn cho không ít bạn học sinh trong quá trình ôn tập. Trong bài viết này, cùng HOCMAI phân tích Kiều ở lầu Ngưng Bích để hiểu rõ hơn về những luận điểm trọng tâm cần chú ý nhé!

I. Thông tin đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích

1. Ví trí, thể loại của đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích

– Đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích thuộc nội dung phần II: Gia biến và lưu lạc của tác phẩm truyện Kiều. Để có thể nắm bắt nội dung tổng quát tác phẩm này, các bạn có thể tham khảo tại Phân tích tác phẩm Truyện Kiều – Nguyễn Du

– Đoạn trích thuộc thể loại truyện thơ Nôm, được trình bài theo thể thơ lục bát.

– Bị giam lỏng tại lầu Ngưng Bích, việc sống trong cảnh cô đơn chỉ có nước với trời đã khiến tâm trạng của Kiều bất giác dệt thành những câu thơ tả cảnh ngụ tình tuyệt tác.

 

2. Bố cục Kiều ở lầu Ngưng Bích

Bố cục của bài thơ được phân thành 3 phần, được viết dựa theo diễn biến tâm trạng và hoàn cảnh của Thúy Kiều. Cụ thể được chia như sau:

Phần 1: 6 câu đầu – Hoàn cảnh đáng thương và tâm sự của Thúy Kiều

Phần 2: 8 câu tiếp – Kiều và nỗi nhớ cha mẹ, nhớ Kim Trọng – mối tình đầu của nàng

Phần 3: 8 câu cuối – Tâm trạng của Kiều ở lầu Ngưng Bích được bộc lộ qua cách nàng cảm nhận về cảnh vật 

 

II. Tóm tắt Kiều ở lầu Ngưng Bích

Đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” nằm ở phần thứ hai của Truyện Kiều, là một trong những phân đoạn cảm động nhất trong kiệt tác Truyện Kiều của Nguyễn Du.

Sau khi Kiều biết mình đã bị kẻ buôn thịt bán người – Mã Giám Sinh lừa gạt và làm nhục, lừa vào chốn lầu xanh, Kiều bị đày đọa và ép phải tiếp khách làng chơi. Kiều đau đớn, phẫn uất và nhất quyết không chịu nghe theo, nàng thà tự tử chứ nhất quyết không chịu tiếp khách. Cho dù bị Tú Bà nhục mạ, mắng nhiếc, Kiều nhất định không bán rẻ danh dự, phẩm giá của mình để làm giàu cho mụ.

Thấy Kiều cự tuyệt không chịu tiếp khách, Tú Bà sợ mất “cả chì lẫn chài” nên đã lấy lời ngon ngọt để khuyên giải, dụ dỗ để đưa nàng ra sống riêng ở lầu Ngưng Bích. Để làm được điều đó, mụ đã giả vờ chăm sóc cho Kiều. Không những vậy mụ còn hứa hẹn sẽ gả nàng cho người tử tế khi nàng bình phục. Tuy nhiên, thực chất việc dụ Kiều vào lầu Ngưng Bích chỉ là mưu đồ giam lỏng nàng để mụ thực hiện âm mưu buôn người đê tiện và tàn bạo hơn.

Đoạn trích là lời kể, lời bộc bạch của Kiều về một đêm ở lầu Ngưng Bích. Qua con mắt của nàng, cảnh vật hiện ra thấm đượm một nỗi buồn, tựa như chính nỗi buồn, nỗi tủi nhục mà Kiều đang phải trải qua vậy. Khung cảnh trời đất dường như chỉ khiến Kiều cảm thấy cô đơn hơn. Rồi nàng nhớ đến cha mẹ già ở nhà không ai phụng dưỡng, nàng tự trách mình bất hiếu. Cùng với nỗi nhớ người yêu, nỗi nhớ gia đình là nỗi nhớ quê hương da diết. Và từ thực tế đó, đoạn trích được viết ra như chính là lời khóc thương của Kiều dành cho số phận lênh đênh, vô định của chính mình.

 

III. Phân tích Kiều ở lầu Ngưng Bích

1. Phân tích 6 câu đầu Kiều ở lầu Ngưng Bích: Hoàn cảnh đáng thương và tâm sự của Thúy Kiều

Sau bao biến cố, ly biệt, lầu Ngưng Bích có thể được coi là nơi chốn tạm thời của Kiều:

“Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân,

Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung”

– Hai chữ “khóa xuân” đã ngầm ẩn dụ về tuổi xuân của Kiều. Thời gian bị giam lỏng ở lầu Ngưng Bích của nàng cũng là thời gian “cánh cửa” dẫn đến tuổi thanh xuân của Kiều bị “khóa” lại. Tuổi xuân của nàng đã qua mà giờ đây lại còn bị bán vào lầu xanh, số phận nằm trong tay những kẻ buôn người mới bẽ bàng làm thế nào. 

– Đặc biệt, từ “khóa xuân” tác giả sử dụng cũng mang nhiều giá trị gợi tả. “Khóa xuân” ở đây có thể hiểu là tác giả đang ngầm ý nhắc đến những người con gái đẹp, những nàng tiểu thư trong gia đình quyền quý thời xa xưa. Họ bị khóa kín tuổi xuân, sống khép kín trong sự bao bọc của gia đình, cùng với đó là những khuôn khổ, phép tắc hà khắc mà xã hội áp đặt lên những người phụ nữ. Từ “khóa xuân” được Nguyễn Du sử dụng hoàn toàn phù hợp với tình cảnh và xuất thân của Kiều, đồng thời hàm ý mỉa mai để nói về cảnh ngộ xót xa, trớ trêu của nàng

Không gian tĩnh mịch, cô đơn khi chỉ có Kiều với vạn vật thiên nhiên mà không hề có thêm một bóng hình ai khác:

– Kết hợp hai hình ảnh “non xa” và “trăng gần”, tác giả đã gợi lên một không gian dài, rộng, cao, sâu vô tận. Đồng thời, thể hiện sự chơ vơ, trơ trọi của lầu Ngưng Bích. 

– Qua câu thơ người đọc có thể tưởng tượng ra vị trí của lầu ngưng Bích được đặt khá cao. Đến nỗi từ lầu Ngưng Bích, Kiều có thể phóng tầm nhìn ra xa để cảm nhận vạn vật thiên nhiên xung quanh.

– Có lẽ chỉ khi màn đêm buông xuống Kiều có thể làm bạn với trăng, mới có thể nhìn rõ cảnh vật non xa. Khung cảnh đêm hôm chỉ có Kiều, ánh trăng và núi hiện ra đơn độc vô cùng.

Quang cảnh xung quanh lầu Ngưng Bích hiện lên qua góc nhìn của Kiều. Đó là một bức tranh thiên rộng mênh mông, bát ngát, vắng lặng và lạnh lẽo:

“Bốn bề bát ngát xa trông

Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia.”

Không gian trống trải, hoang vắng được thể hiện qua:

– Hình ảnh “cát vàng” và “bụi hồng” gợi lên sự sống đang phai nhạt và cảnh vật ngổn ngang đang hiện lên trước mắt Kiều:

  • “Cát vàng cồn nọ” là những cồn cát nổi lên cao hơn mặt nước biển, thường ở gần những bờ biển, trông từ xa có thể liên tưởng đến những ngọn núi cát.
  • “Bụi hồng dặm kia” là quang cảnh đường đi bụi bay mù mịt vì rất đông người hoặc chỉ là gió thổi mạnh bụi bay mà thôi. Tuy nhiên, từ góc nhìn của Kiều, không ai biết được đằng sau lớp bụi mù mịt ấy là đường hay là người

– Với từ “xa trông”, có vẻ từ điểm nhìn của Kiều, nàng đang trông ngóng, hướng về một dấu hiệu của sự sống, tìm kiếm sự thân quen tại chốn xa lạ này

– Kết hợp việc sử dụng cặp tiểu đối “mây sớm” và “đèn khuya” ở hai câu thơ đầu, tác giả đã  thể hiện nỗi hắt hiu, trống vắng, mênh mông của khung cảnh từ lầu Ngưng Bích nhìn ra

=> Qua hay câu thơ ta có thể thấy, thực chất những sự vật thiên nhiên mà Kiều miêu tả chỉ là tưởng tượng và phỏng đoán mơ hồ của chính nàng mà thôi. Mọi thứ đều mờ nhạt, không rõ ràng vì ở quá xa và không gian thì quá đỗi rộng lớn. Bị giam lỏng trong lầu Ngưng Bích, niềm vui duy nhất của Kiều là ngắm cảnh và làm bạn với vạn vật thiên nhiên. Thế nhưng, trớ trêu thay, ngay cả vạn vật thiên nhiên trước mắt nàng cũng quá đỗi xa vời, rộng lớn đến nỗi khó có thể chạm vào.

=> 4 câu thơ gợi lên bức tranh thiên nhiên rộng lớn, mênh mông, bát ngát. Sự rộng lớn đã làm nổi bật sự buồn tẻ, đơn độc, trống vắng mà nhân vật Kiều đang phải trải qua. Con người dường như trở nên nhỏ bé và héo úa trong không gian này. 

Chính sự cô liêu, nhạt nhẽo của cảnh vạn vật thiên nhiên xung quanh lầu Ngưng Bích đã gợi nỗi buồn cho thân phận nhân vật:

“Bẽ bàng mây sớm đèn khuya

Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng.”

– Sử dụng cụm từ “mây sớm đèn khuya”, tác giả đã thể hiện sự tù túng nơi lầu Ngưng Bích. Thời gian tại đây trôi như một vòng tuần hoàn, khép kín, giam hãm con người Kiều mà chưa biết khi nào mới có thể thoát ra. 

Từ cảnh vật, Kiều cảm thấy chua xót, “bẽ bàng” cho thân phận của chính mình:

– Từ “bẽ bàng” được đặt trong hoàn cảnh đoạn thơ, được hiểu là cảm giác chán ngán, buồn rầu. Đồng thời cũng có nghĩa là tủi hổ, là thẹn là xấu hổ khi Kiều vốn xuất thân con nhà gia giáo, là tiểu thư tài sắc vẹn toàn, mà nay lại phải làm bạn với cảnh vật tại chốn lầu xanh và bị bọn buôn người chèn ép

– Kiều bị đày đọa, giam cầm trong không gian và thời gian tuần hoàn vô tận. Hoàn cảnh này đối lập hoàn toàn với cuộc sống bình yên, hạnh phúc của Kiều trước. Bởi vậy nên nỗi cô đơn cùng cực tại lầu Ngưng Bích khiến nàng cảm thấy “bẽ bàng”.

=> Câu thơ “Bẽ bàng mây sớm đèn khuya” thể hiện nàng vô cùng ngán ngẩm trước cuộc sống không có gì mới lạ. Nàng chán nản với cảnh sáng nhìn mây, tối nhìn đèn, lặp đi lặp lại không hồi kết. 

– Cụm từ “như chia tấm lòng” ý miêu tả những suy tư trong Kiều: lúc nàng nghĩ đến tình, lúc lại nghĩ đến cảnh. Qua đó, tác giả muốn nói về sự rối bời nội tâm của Kiều, tâm trạng thay đổi thất thường, lúc vì tình mà ngắm cảnh, lúc lại vì cảnh mà sinh tình. 

Đây chính là cái tài của nhà thơ khi viết câu thơ hoàn toàn có thể khiến tất cả chúng ta diễn đạt theo nhiều nghĩa.

=> Qua 6 câu thơ đầu, Nguyễn Du đã cho thấy tài năng vượt bậc của mình khi kết hợp nhuần nhuyễn bút pháp tả cảnh ngụ tình và hệ thống hình ảnh ước lệ, ngôn ngữ giàu sắc thái biểu cảm. Từ đó, ông đã thành công trong việc khắc họa nên một bức tranh thiên nhiên mênh mông, vắng lặng, làm nổi bật lên hình ảnh nàng Kiều lẻ loi, đơn độc với muôn vàn nỗi nhớ ùa về trong tiềm thức.

2. Phân tích 8 câu thơ giữa đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích: Kiều và nỗi nhớ tình đầu và nỗi nhớ cha mẹ

a. Nỗi nhớ chàng 

Trong cảnh sự cô đơn nơi lầu xanh, Kiều đau đớn nhớ tới mối tình đã thề ước của mình là chàng Kim – một mối tình mãnh liệt mà trong sáng của nàng:

“Tưởng người dưới nguyệt chén đồng,

Tin sương luống những rày trông mai chờ”

– Việc Kiều chấp nhận bán mình chuộc cha là để làm tròn chữ hiếu nhưng cũng vì thế mà dang dở chữ tình. Vì vậy, trước cảnh tự tình, nàng đã nhớ đến chàng Kim, mối tình da diết mặn nồng của nàng trước tiên, mang theo đó là cái mặc cảm luôn thường trực của một kẻ phụ tình

Đặc biệt, khi nói về nỗi nhớ người yêu của Kiều, thay vì dùng động từ “nhớ” Nguyễn Du đã dùng từ “tưởng”:

– Khác với nỗi nhớ thông thường, từ “tưởng” vừa là nỗi nhớ, vừa là hình dung, hồi tưởng của Kiều về những ngày tháng còn mặn nồng của hai người, tưởng tượng ra cảm giác yêu và được yêu nàng từng có trong quá khứ.

– Sử dụng từ “chén đồng” để ám chỉ chén rượu thề nguyền, một lòng, một dạ với người mình yêu mà Kiều và Kim Trọng đã uống dưới sự chứng giám của ánh trăng

– Trong cái “tưởng”, Kiều như tưởng tượng thấy chàng Kim ở nơi xa cũng đang hướng về mình. Kim Trọng không hề hay biết nàng đã bán mình chuộc cha. Có lẽ chàng đang ngày đêm đau đáu chờ tin nàng vô ích: “Tin sương luống những rày trông mai chờ”.

– Trong cái cô đơn, hiu quạnh, Kiều “tưởng” như đã thấy lại đêm trăng đẹp nhất của cuộc đời mình. Đó là đêm mà nàng cùng với chàng Kim thề nguyền đính ước bên nhau. Ấy vậy mà khi vầng trăng vẫn ở đó, chén rượu thề nguyền còn chưa ráo thì tình duyên đã bị buộc phải chia ly. 

“Vầng trăng vằng vặc giữa trời

Đinh linh hai miệng một lời song song”

Nỗi nhớ về chàng Kim càng da diết thì Kiều càng nuối tiếc, thấm thía tình cảnh của mình:

“Bên trời góc bể bơ vơ

Tấm son gột rửa bao giờ cho phai.”

– Bị kẻ xấu bán vào lầu xanh, Kiều tủi nhục vì tấm lòng son sắc nàng gìn giữ bấy lâu đã bị hoen ố, không biết bao giờ mới gột rửa sạch. Dẫu vậy, với tấm lòng thủy chung, nàng vẫn một lòng một dạ nhớ về Kim Trọng, coi chàng là tình yêu duy nhất của cuộc đời mình. 

=> Qua câu thơ, tác giả muốn nói rằng, tấm son của Kiều có thể vì xã hội mà bị hoen ố. Mặc dù vậy, “tấm son” hay tấm lòng chung thủy của nàng dành cho Kim Trọng là vô tận. Từ đó ta càng thêm trân trọng tấm lòng vị tha, thủy chung son sắt trước sau như một của Kiều. 

b. Nỗi nhớ về cha mẹ nơi phương xa

Tâm trạng tủi nhục, thương nhớ người yêu chưa nguôi ngoai, Kiều lại nhớ về cha mẹ mình nơi quê nhà xa xôi:

“Xót người tựa cửa hôm mai

Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ

Sân lai cách mấy nắng mưa,

Cỏ khi gốc tử đã vừa người ôm.”

Nhìn cảnh vật, Kiều xót xa khi nghĩ đến việc không thể tự tay chăm sóc cha mẹ đã già yếu nơi quê nhà:

– Sử dụng động từ “xót”, tác giả đã diễn tả một cách chính xác tâm trạng của Kiều khi nhớ về cha mẹ. Nàng xót xa khi tưởng tượng ra cảnh cha mẹ già yếu, ngày ngày tựa cửa ngóng tin con, lo lắng cho nàng

Trong nỗi nhớ, nàng tự trách bản thân vì phận làm con nhưng chưa làm tròn chữ hiếu:

– Sử dụng hệ thống thành ngữ và điển cố, tác giả đã gợi lên rõ nét tâm trạng nhớ thương và sự hiếu thảo của Kiều với cha mẹ

– Thành ngữ “quạt nồng ấp lạnh” bộc lộ sự day dứt khôn nguôi của Kiều khi không thể tự mình hầu hạ, chăm sóc cho cha mẹ già. Là con gái lớn trong nhà nhưng lại không ở bên cha mẹ, nàng lo lắng không biết giờ đây ai sẽ thay nàng chăm sóc cha mẹ khi thời tiết đổi thay.

– Trong nỗi nhớ, nàng tưởng tượng ra sự đổi thay của quê hương, rồi tưởng tượng đến cảnh “gốc tử đã vừa người ôm”. Tuy thời gian đối với nàng tại lầu xanh là một vòng tuần hoàn tù túng, nhưng với cha mẹ, thời gian khiến họ già yếu đi từng ngày. Ấy vậy mà Kiều  không thể phụng dưỡng, hoàn thành nghĩa vụ làm con khiến nàng vô cùng day dứt.

– Sử dụng cụm từ “cách mấy nắng mưa”, tác giả vừa nói được sự xa cách về không gian, vừa gợi sức mạnh của thời gian đối với cảnh vật và con người. 

=> Qua ngôn ngữ độc thoại nội tâm, tác giả đã thể hiện chân thực và sinh động nỗi nhớ của Kiều dành cho Kim Trọng và cha mẹ, từ đó nói lên nhân cách đáng trân trọng của nàng. Trong hoàn cảnh bị bán vào lầu Ngưng Bích, chính Kiều mới là người đáng thương nhất. Những thay vì than vãn về số phận của bản thân, nàng lại hướng sự quan tâm vào những người thân yêu nhất. Điều đó chứng minh rằng, nàng không chỉ là một người tình thủy chung, một người con hiếu thảo mà còn là một con người có tấm lòng vị tha, cao cả.

3. Phân tích 8 câu cuối Kiều ở lầu Ngưng Bích: Tâm trạng của Kiều ở lầu Ngưng Bích được bộc lộ qua cách nàng cảm nhận về cảnh vật 

Trong nỗi nhớ thương, mọi cảnh vật hiện lên qua góc nhìn của Kiều đều đượm một nỗi buồn da diết:

– Sự độc đáo trong cách sử dụng ngôn ngữ độc thoại và nghệ thuật điệp từ: Mỗi cặp lục bát tạo thành một cảnh, được tác giả khắc họa, liên kết bằng điệp từ “buồn trông”.

– “Buồn trông” thể hiện hoạt động nhìn ra xa của nhân vật khi đang mang mình một nỗi buồn. Cái nhìn đó mơ hồ trông ngóng về những thứ không có thực, là cái ngóng trông trong vô vọng

– “Buồn trông” bộc lộ cảm xúc thảng thốt lo âu của một người con gái ngây thơ, lần đầu lạc bước giữa dòng đời nghiệt ngã, lần đầu sống trong cảnh bấp bênh không lối thoát.

Tại cảnh đầu tiên:

“Buồn trông cửa bể chiều hôm

Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa”

– Lối miêu tả gợi lên bức tranh của cảnh chiều hôm trong con mắt của kẻ nhớ nhà. Khoảng thời gian “chiều hôm” khiến cho Kiều thấm thía nỗi buồn thân phận của chính mình

Sử dụng hình ảnh ẩn dụ “cánh buồm” giàu giá trị biểu đạt, tác giả đã cùng lúc thể hiện ngoại cảnh song song với nội tâm nhân vật:

– Giữa của bể, cánh buồm nhỏ nhoi, lặng lẽ, đơn độc trong sự mênh mông, bát ngát của không gian, một mình lênh đênh dưới ánh sáng le lói cuối cùng của buổi chiều tà

– Con thuyền từ góc nhìn của Kiều cứ mỗi lúc một xa, rồi dần biến mất. Không ai biết khi nào thì con thuyền đó tìm được bến bờ neo đậu. 

– Từ hình ảnh “con thuyền”, ta nhận ra điểm chung với số phận của Kiều. Cuộc đời nàng kể từ giờ cũng lênh đênh giữa dòng đời biến động, không biết bao giờ mới có cơ hội sum họp, đoàn tụ với những người thân yêu.

=> Cảnh đầu tiên đã phản chiếu nỗi buồn, nhớ thương quê hương da diết của một kẻ lưu lạc như Kiều. Trong văn học xưa, không gian buổi chiều thường được gắn với nỗi buồn man mác. Trong trường hợp của Kiều, nỗi buồn ở đây là khát khao của nàng về một ngày được sum họp. 

Tại cảnh thứ hai:

“Buồn trông ngọn nước mới sa

Hoa trôi man mác biết là về đâu?”

– Sử dụng hình ảnh ẩn dụ “hoa trôi”, tác giả đã làm rõ nỗi buồn và thân phận lênh đênh, nổi chìm của Thúy Kiều.

– Sử dụng câu hỏi tu từ, tác giả như xoáy vào tâm hồn người đọc những trăn trở, xót xa cho một kiếp người mỏng manh, phiêu bạt. Đồng thời cho thấy sự mất phương hướng, băn khoăn, thấp thỏm của nhân vật

– Hai tiếng “về đâu” cuối câu thơ tạo nên cảm giác xa vắng, vô định, tương đồng với hoàn cảnh hiện tại của Kiều. Vốn Kiều tìm đến với thiên nhiên để giải tỏa nỗi chất chứa trong lòng, thế nhưng càng nhìn cảnh, tâm trạng lại nàng lại càng rối bời thêm

– Hai câu thơ tạo dựng được một bức tranh tương phản với cảnh đầu tiên: Một bên là không gian cửa bể lúc thủy triều lên, một bên là hình ảnh cánh hoa tàn trôi man mác, lững lờ. Qua đó, tác giả làm nổi bật sự nhỏ bé, lênh đênh của cả con thuyền và những cánh hoa đã tàn, gợi nhắc về cuộc sống không chắc chắn của người trong cảnh. 

=> Nội dung cảnh thứ hai nhằm ẩn dụ cho số phận bạc bẽo, nổi chìm giữa dòng đời của Thúy Kiều, tương lai mù mịt, không biết sẽ bị trôi dạt về nơi nào

Tại cảnh thứ ba:

“Buồn trông nội cỏ rầu rầu

Chân mây mặt đất một màu xanh xanh”

– Trong cảnh này, người đọc có thể dễ dàng liên tưởng đến thiên nhiên mùa xuân trong tiết thanh minh, từng xuất hiện trong đoạn trích “Cảnh ngày xuân”. Tuy nhiên, thay vì “cỏ non xanh tận chân trời” đầy sức sống thì sang đến cảnh này, cỏ đã mang hình ảnh “nội cỏ rầu rầu” với sắc xanh héo úa, thiếu sức sống, trải dài từ mặt đất đến chân mây.

– Những nét vẽ không gian lần lượt hiện ra qua hình ảnh “nội cỏ”, “chân mây”, “mặt đất”, từ đó gợi một không gian mênh mông, rộng lớn, khiến Kiều phải sống trong sự cô đơn không lối thoát

– Sử dụng từ láy “rầu rầu”, tác giả vẽ nên cả một vùng cỏ cây tàn héo, và gợi nỗi sầu thương cô lẻ. Cảnh nơi xứ lạ như tương đồng với tâm trạng của của Kiều, nhuốm một màu tâm tư của kiếp người phiêu bạt, khiến nỗi “rầu rầu” ấy tràn ngập và lan tỏa khắp không gian

– Sử dụng từ láy “xanh xanh” đã góp phần gợi tả một sắc xanh nhạt nhòa, xa cách, tê tái. Cũng là xanh nhưng khác với sắc xanh của mùa xuân, màu xanh nơi lầu Ngưng Bích mang một nỗi buồn da diết.

=> Sự vắng lặng bao trùm cảnh vật làm cho không gian trở nên rợn ngợp, cô liêu, tô đậm tiếng lòng thổn thức của người trong cảnh. Cảnh vật không gian xung quanh mờ mịt như tương lai của Kiều, thấm thía sự cô đơn, nhỏ nhoi của thân phận.

Tại cảnh cuối:

“Buồn trông gió cuốn mặt duềnh

Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi”

– Bức tranh thiên nhiên được miêu tả qua những hình ảnh dữ dội và đầy biến động: Gió giận dữ cuốn mặt duềnh; sóng ầm ầm kêu réo thủy triều. Tiếng sóng lớn đến nỗi Kiều còn có cảm giác những con sóng đang bủa vây ngay sát bên mình. Âm thanh dữ dội của tiếng sóng như thay cho tiếng gào thét của lòng người khi phải rơi vào cảnh ngộ bẽ bàng, tê tái.

– Hình ảnh thiên nhiên giận dữ là một ẩn dụ, cảnh báo về những biến cố kinh hoàng sắp sửa ập xuống cuộc đời Kiều. Đó có thể là số phận sắp sửa chôn vùi nàng hoặc một tương lai đầy sóng gió đang chờ nàng phía trước. 

– Việc quan sát cảnh vật từ xa đến gần, miêu tả màu sắc từ nhạt đến đậm, âm thanh từ tĩnh đến động đã góp phần diễn tả diễn biến tâm trạng từ buồn man mác, mông lung đến bão táp với những lo lắng trong nội tâm nhân vật Kiều

=> Giữa chốn xa lạ, Kiều chỉ có thiên nhiên làm bạn để cùng sẻ chia “tấm lòng’’ với nàng. Đó chính là thời khắc Kiều nhận ra nỗi niềm tự thương thân.

=> Qua cảnh cuối, thiên nhiên được miêu tả vô cùng chân thực, sinh động nhưng cũng mang đậm góc nhìn chủ quan từ nhân vật chính. Cảnh được thể hiện dựa theo tâm trạng, vận dụng quy luật: “Cảnh nào cảnh cảnh chẳng đeo sầu/ Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”.

Nghệ thuật được sử dụng trong 8 câu cuối Kiều ở lầu Ngưng Bích

– Điệp ngữ “buồn trông” kết hợp với các hệ thống hình ảnh giàu sức biểu cảm đã diễn tả nỗi buồn ngày càng tăng với nhiều sắc độ khác nhau. Từ nỗi cô đơn cho đến nỗi buồn vô vọng, vô tận

– Bút pháp tả cảnh ngụ tình đặc sắc, với lối tả “tình trong cảnh ấy, cảnh trong tình này”, câu thơ vừa là thực cảnh mà cũng vừa là tâm cảnh. Cảm xúc của Thúy Kiều tác động tới toàn bộ cảnh vật mà nàng nhìn thấy. Trong đó, cảnh nào cũng buồn, u ám hiu quạnh

– Sử dụng thành công hệ thống từ ngữ tả cảnh: tính từ, từ láy

– Thay đổi nhịp thơ ở 2 câu cuối: từ chậm buồn thành gấp gáp

– Phép đối lập giữa 2 câu cuối và 6 câu trước: âm thanh dữ dội đối lập với khung cảnh ảm đạm

– Hình ảnh được tả từ xa đến gần theo sự thay đổi điểm nhìn của nhân vật

III. Sơ đồ tư duy Kiều ở lầu Ngưng Bích 

Các bạn học sinh có thể tham khảo sơ đồ tư duy phân tích Kiều ở lầu Ngưng Bích dưới đây để có thể hiểu hơn về bố cục khi phân tích đoạn trích đặc sắc này.

so-do-tu-duy-kieu-o-lau-ngung-bich

 

 

IV. Tổng kết chung

1. Nội dung đoạn trích

Đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” đã miêu tả chân thực cảnh ngộ cô đơn, buồn tủi, đáng thương của Kiều. Đồng thời, đoạn trích cũng phản chiếu nỗi nhớ người thân da diết và tấm lòng thủy chung, hiếu thảo của Thúy Kiều khi bị giam lỏng ở lầu Ngưng Bích. Đoạn trích  tiêu biểu cho giá trị nhân đạo của kiệt tác Truyện Kiều. Qua đó Nguyễn Du đã bộc lộ lòng cảm thương sâu sắc đối với thân phận hồng nhan bạc mệnh và nỗi niềm của nhân vật. 

2. Nghệ thuật sử dụng trong đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích

– Thành công trong nghệ thuật tả cảnh ngụ tình – đặc trưng trong thơ Nguyễn Du

– Khả năng kết hợp ngôn từ và hình ảnh thơ tài hoa.

– Hệ thống từ láy được sử dụng khéo léo ở tám câu thơ cuối, tạo ra sự ấn tượng cho toàn đoạn trích

Trên đây là dàn ý chi tiết phân tích Kiều ở lầu Ngưng Bích thuộc tác phẩm thơ kinh điển Truyện Kiều của đại thi hào dân tộc – Nguyễn Du. Ngoài tác phẩm trên, các bạn học sinh có thể tham khảo bộ tài liệu Soạn văn 9 do HOCMAI biên soạn để phục vụ cho quá trình ôn thi văn vào lớp 10 được hiệu quả hơn. Hy vọng bài viết trên đã giúp các bạn hiểu hơn về nội dung cũng như giá trị nhân văn được truyền tải qua tác phẩm!

 

Tham khảo thêm: Phân tích cảnh ngày xuân