Phân tích bài thơ Nói với con tác giả Y Phương – HOCMAI

0
769
phan-tich-bai-tho-noi-voi-con-ava

Nhằm mục đích giúp học sinh lớp 9 nắm chắc kiến thức môn Ngữ văn lớp 9 để chuẩn bị tốt cho kì thi tuyển sinh sắp tới, HOCMAI đã tổng hợp phân tích toàn bộ khái quát các tác phẩm văn học ôn thi vào lớp 10. Trong bài viết này, cùng phân tích chi tiết tác phẩm Nói với con của tác giả Y Phương

I. Thông tin về tác giả – tác phẩm

1. Tác giả: Y Phương

– Tên thật: Hứa Vĩnh Sước

– Sinh năm 1948, mất ngày năm 2022 

– Quê quán: tại làng Hiếu Lễ, xã Lăng Hiếu, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng (ông là người dân tộc Tày)

– Ông là một trong những gương mặt nhà thơ tiêu biểu thuộc lớp các nhà thơ xuất thân từ dân tộc miền núi

– Y Phương có niềm đam mê dành cho văn chương từ rất sớm, ham mê đọc sách ngay từ nhỏ

– Ngoài ra, Y Phương đã trải qua cuộc đời người lính đặc công từ năm 1968 và con đường đến với thơ ca của ông cũng rất tình cờ và ngẫu nhiên

Cảm hứng trong sáng tác và phong cách nghệ thuật:

– Y Phương luôn đi tìm cái mới, cái độc đáo trong những sáng tác của mình, tuy nhiên vẫn giữ cho mình khuôn phép riêng, ngay cả trong đời sống thực. 

– Người đọc có thể dễ dàng tìm thấy ở Y Phương một tiếng nói chung, đồng cảm, bởi lẽ cuộc sống đời thường và trong thơ của ông chính là một

– Các tác phẩm thơ của Y Phương được lấy chất liệu chủ yếu từ gia đình, quê hương và đất nước

– Phong cách sáng tác: Ngôn ngữ thơ gần gũi, giản dị, hồn nhiên, mang đặc trưng lối tư duy của người vùng cao. Hình ảnh thơ được tác giả vận dụng phong phú, mang giá trị biểu tượng cao;…

– Văn chương nghệ thuật với Y Phương có thể coi là một trò chơi ngôn ngữ nhằm thỏa mãn cho chính bản thân nhà thơ và cho người đọc

Các tác phẩm tiêu biểu trong sự nghiệp sáng tác của Y Phương:

Người của núi” (1982); Tháng Giêng – tháng Giêng một vòng dao quắm (2009); Nói với con (1980); Người núi Hoa (1982); Tiếng hát tháng giêng (1986); Lời chúc (1991); Thất tàng lồm (Ngược gió, 2006); Hoa quả chuông (Bjooc ăn lình); Đò trăng (trường ca),…

 

2. Tác phẩm Nói với con

a. Hoàn cảnh ra đời “Nói với con”

– Bài thơ được in trong tập thơ “Thơ Việt Nam”

– Bài thơ “Nói với con” được sáng tác vào năm 1980, 5 năm sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Đây là giai đoạn mà đời sống của nhân dân nói chung gặp rất nhiều khó khăn, cả về vật chất lẫn tinh thần. Trong tâm sự của Y Phương, ông từng nói rằng:  “Đó là thời điểm đất nước ta gặp vô vàn khó khăn… Bài thơ là lời tâm sự của tôi với đứa con gái đầu lòng.”

– Ngoài là lời tâm sự với con, tác phẩm còn là lời tâm sự với chính mình. Y phương giải thích: lý do để ông ra sáng tác bài thơ chính là khi ông không biết lấy gì để vịn, để tin. Khi cả xã hội lúc bấy giờ đều đang hối hả, gấp gáp kiếm tìm tiền bạc. Vì vậy, muốn sống đàng hoàng như một con người, cần phải bám vào nền tảng văn hóa, tin vào những giá trị tích cực, vĩnh cửu của văn hóa. Qua bài thơ ấy, Y Phương muốn gửi thông điệp rằng chúng ta phải vượt qua sự ngặt nghèo, đói khổ ấy bằng văn hóa.” Bài thơ đối với Y Phương như một lời tâm sự với chính mình, mục đích là để động viên bản thân, đồng thời để lại lời nhắc nhở cho các thế hệ mai sau.

b. Ý nghĩa nhan đề “Nói với con”

Nhan đề “Nói với con” ngắn gọn, nhưng đã khái quát lên nội dung chính của bài thơ đó là lời trò chuyện, tâm sự của người cha với đứa con của mình. Qua đó, tác giả muốn nhắn nhủ tới thế hệ sau cần tiếp nối, phát huy và gìn giữ truyền thống tốt đẹp của quê hương, đất nước. Nhắc nhở con nhìn vào cội nguồn mà sống sao cho xứng đáng

c. Bố cục nội dung

Bố cục bài thơ được chia thành 2 phần với nội dung cụ thể như sau:

– Phần một – Đoạn 1: Nhắc nhở về cội nguồn sinh thành và nuôi dưỡng con

– Phần hai – Đoạn 2: Đề cao những phẩm chất cao quý của người đồng mình và mong con tiếp nối truyền thống cao đẹp đó

 

II. Phân tích bài thơ Nói với con

1. Phân tích khổ thơ đầu bài Nói với con: Nhắc nhở về cội nguồn sinh thành và nuôi dưỡng con

“Chân phải bước tới cha

Chân trái bước tới mẹ

Một bước chạm tiếng nói

Hai bước tới tiếng cười

Người đồng mình yêu lắm con ơi

Đan lờ cài nan hoa

Vách nhà ken câu hát

Rừng cho hoa

Con đường cho những tấm lòng

Cha mẹ mãi nhớ về ngày cưới

Ngày đầu tiên đẹp nhất trên đời.”

Trong những lời tâm tình đầu tiên, tác giả đã nhắc về cội nguồn sinh thành và nuôi dưỡng con:

“Chân phải bước tới cha

Chân trái bước tới mẹ

Một bước chạm tiếng nói

Hai bước tới tiếng cười.”

– Sử dụng hệ thống từ ngữ giàu giá trị tạo hình như “chân phải”, “chân trái”, “một bước”, “hai bước” tác giả đã giúp người đọc liên tưởng đến hình ảnh một đứa trẻ đang tập đi những bước chân chập chững đầu tiên trong sự vui mừng, hân hoan của cha mẹ

Sử dụng thủ pháp liệt kê lần đầu qua hình ảnh “tiếng nói”, “tiếng cười” góp phần:

– Liên tưởng đến hình ảnh em bé đang ở tuổi bi bô tập nói, tập cười

– Tạo ra không khí đầm ấm của một gia đình hòa thuận, luôn tràn ngập hạnh phúc, tràn đầy tiếng nói, tiếng cười

Sử dụng thủ pháp liệt kê lần hai qua hình ảnh “tới cha”, “tới mẹ” đã giúp tác giả:

– Tái hiện hình ảnh em bé sà vào lòng mẹ, níu lấy tay cha khi đang chập chững tập đi

– Thể hiện tình cảm của cha mẹ, luôn dõi ánh mắt theo con và luôn dang rộng vòng tay đón đợi con bước đến

– Sử dụng nhịp thơ 2/3 với cấu trúc đối xứng đã tạo nên không khí vui tươi, bình yên, êm đềm của mái ấm gia đình đầm ấm, hạnh phúc.

=> 4 câu thơ đầu với lời thơ giản dị như một lời tâm tình thủ thỉ mà Y Phương muốn nhắn nhủ tới con, rằng gia đình chính là cội nguồn, là nơi sinh thành và nuôi dưỡng con từ những bước chân đầu tiên. Chính vì vậy, trên hành trình vạn dặm của con về sau, con không được phép quên công lao dưỡng dục của cha mẹ

Song song với gia đình là quê hương, là nơi con sinh ra, nơi gia đình con thuộc về. Nhờ có quê hương con mới khôn lớn và trưởng thành như ngày hôm nay:

“Người đồng mình yêu lắm con ơi

Đan lờ cài nan hoa

Vách nhà ken câu hát

Rừng cho hoa

Con đường cho những tấm lòng.”

– Tác giả sử dụng cụm từ “người đồng mình” để thể hiện lối nói đặc trưng của người vùng cao về quê hương hay người đồng hương cho thấy ngay cả trong thơ, tác giả vẫn đem đến nét đặc trưng riêng của dân tộc mình 

– Cách giới thiệu “người đồng mình” đi liền với ngôn ngữ hô gọi “con ơi” đã giúp lời tâm sự giữa hai cha con trở nên thật trìu mến và thân thương

Kết hợp ngôn ngữ thân thuộc và hệ thống hình ảnh đã gợi ra nhiều ý nghĩa:

– “Đan lờ cài nan hoa” là hình ảnh tả thực công cụ lao động thô sơ, đã được “người đồng mình” trang trí và trở nên đẹp đẽ. Chi tiết này đã thể hiện sự cần cù, tài hoa và sáng tạo của người dân nơi quê hương tác giả. Họ có thể khiến cho những nan nứa, nan tre đơn sơ, thô mộc trở thành những “nan hoa” trang trí.

phan-tich-bai-tho-noi-voi-con-1

– “Vách nhà ken câu hát” là hình ảnh tả thực lối sinh hoạt trong văn hóa cộng đồng người Tày. Những “vách nhà” có thêm hát si, hát lượn đã gợi ra một thế giới tâm hồn tràn đầy lạc quan của cộng đồng người miền cao. Đây là một trong những ý quan trọng và không thể thiếu trong phân tích tác phẩm Nói với con mà các em học sinh cần lưu ý.

– Sử dụng loạt động từ “cài”, “ken”, tác giả vừa miêu tả sự khéo léo trong các động tác lao động vừa nói lên sự gắn bó khăng khít của những “người đồng mình” trong cuộc sống thường nhật cũng như trong lao động

Tác dụng của biện pháp nghệ nhân hóa trong câu thơ:

– Phép nhân hóa “Rừng cho hoa” miêu tả vẻ đẹp của những rừng hoa mà thiên nhiên mà quê hương ban tặng cho người dân nơi đây. Phép nghệ thuật còn tô điểm thêm cho sự giàu có và hào phóng của thiên nhiên miên cao

– Phép nhân hóa “Con đường cho những tấm lòng” được dùng để miêu tả những con đường dẫn về nhà, về bản. Từ đó, gợi ra tấm lòng, tình cảm của những “người đồng mình” với mái ấm gia đình, với quê hương, xứ sở

– Ngoài ra, điệp từ “cho” đã thể hiện tấm lòng rộng mở, hào phóng của thiên nhiên, sẵn sàng ban tặng cho con người tất cả những gì đẹp nhất, tuyệt vời nhất của đất trời

=> Ý nghĩa của câu thơ chính là lời nhắc nhở của người cha dành cho con. Rằng nếu như gia đình là cội nguồn, là nơi con sinh ra và dưỡng dục con, thì quê hương đã nuôi dưỡng tâm hồn và che chở cho con bằng văn hóa tốt đẹp trong suốt hành trình trưởng thành.

Cuối cùng, tác giả tâm sự cho con nghe về kỉ niệm hạnh phúc nhất của cha mẹ. Đó cũng là cội nguồn để có con của ngày hôm nay:

“Cha mẹ mãi nhớ về ngày cưới

Ngày đầu tiên đẹp nhất trên đời.”

– Tác giả “Nhớ về ngày cưới” cũng là nhớ về những kỷ niệm đánh dấu sự khởi đầu của một gia đình. Và con chính là minh chứng cho kết tinh của tình yêu đẹp đẽ giữa cha và mẹ

– Với tác giả “Ngày đầu tiên đẹp nhất” có thể là ngày cưới và cũng có thể là ngày đầu tiên con cất tiếng khóc chào đời

=> Khổ thơ đầu bài thơ Nói với con là lời dặn dò, nhắn nhủ của người cha khi tâm sự với con. Cha nhắc con luôn phải nhớ và biết ơn về cội nguồn sinh thành và nuôi dưỡng của mình. Đó chính là gia đình của con, là quê hương – những nền tảng cốt lõi tạo ra bước đệm giúp con khôn lớn và trưởng thành. Vì vậy, con luôn phải sống bằng tất cả tình yêu và niềm tự hào.

2. Phân tích khổ thơ 2 bài thơ Nói với con – Đề cao những phẩm chất cao quý của người đồng mình và mong con tiếp nối truyền thống cao đẹp đó

“Người đồng mình thương lắm con ơi

Cao đo nỗi buồn

Xa nuôi chí lớn

Dẫu làm sao thì cha vẫn muốn

Sống trên đá không chê đá gập ghềnh

Sống trong thung không chê thung nghèo đói

Sống như sông như suối

Lên thác xuống ghềnh

Không lo cực nhọc

Người đồng mình thô sơ da thịt

Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con

Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương

Còn quê hương thì làm phong tục

Con ơi tuy thô sơ da thịt

Lên đường

Không bao giờ nhỏ bé được

Nghe con.”

a. Phẩm chất cao quý của người đồng mình

Khi tâm tình về cội nguồn gia đình và quê hương, người cha đã khéo léo nhắc đến những phẩm chất tốt đẹp của người đồng mình:

“Người đồng mình thương lắm con ơi!

Cao đo nỗi buồn

Xa nuôi chí lớn”

– Sử dụng lối nói thân thuộc, gần gũi của người vùng cao “người đồng mình” đã giúp tạo lên không khí thân thương, tình cảm thân thiết giữa người trong một gia đình.

– Sử dụng động từ “thương” kết hợp với từ chỉ mức độ “lắm”, tác giả đã bộc lộ sự đồng cảm với những nỗi vất vả, những khó khăn mà con người quê hương đã phải trải qua

Sử dụng từ ngữ giàu sức gợi như tính từ “cao”, “xa” có tác dụng:

– Gợi tả sinh động bức tranh khung cảnh miền cao với những dãy núi cao, trùng điệp, thiên nhiên hùng vĩ

– Việc sắp xếp những tính từ này theo trình tự tăng tiến đã gợi liên tưởng đến những khó khăn chồng chất, thử thách ý chí của “người đồng mình”

– Thay vì sử dụng những tính từ định lượng, tác giả sử dụng linh hoạt hình ảnh mang tư duy của người miền núi khi lấy cái cao của trời, của núi để đo đếm nỗi buồn; lấy cái xa của đất để đo ý chí của con người. Một cách sử dụng từ ngữ hết sức độc đáo 

=> 3 câu thơ vừa để tôn vinh ý chí, nghị lực vươn lên của người đồng mình, vừa ngậm ngùi, xót xa trước đời sống còn nhiều những khó khăn, thiếu thốn của đồng bào vùng cao. 

phan-tich-bai-tho-noi-voi-con-kho-2

Từ phẩm chất của người đồng mình, Y Phương tiếp tục nói với con về ý chí và vẻ đẹp truyền thống của người vùng cao:

“Người đồng mình thô sơ da thịt

Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con

Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương 

Còn quê hương thì làm phong tục.”

Sử dụng nghệ thuật tương phản giữa “thô sơ da thịt” và “chẳng mấy ai nhỏ bé”

– Cụm từ “thô sơ da thịt” góp phần miêu tả chân thực những đặc điểm về vóc dáng, hình hài nhỏ bé đặc trưng của “người đồng mình”.

– Trái lại, cụm từ “chẳng mấy ai nhỏ bé” lại gợi ra ý chí, nghị lực phi thường, luôn sẵn sàng vượt lên hoàn cảnh, bất chấp khó khăn, thiếu thốn do vị trí địa lý mang lại

=> Nghệ thuật tương phản trong hai câu thơ liên tiếp đã giúp tôn vinh “tầm vóc”, “vóc dáng” của “người đồng mình”. Tuy họ “thô sơ da thịt” nhưng họ chưa bao giờ biết yếu đuối.

Hình ảnh thơ “tự đúc đá kê cao quê hương” mang nhiều lớp ý nghĩa ẩn dụ sâu sắc:

– Nghĩa tả thực: miêu tả thực tế quá trình dựng nhà, dựng bản nơi quê hương tác giả. Những ngôi nhà được kê trên những tảng đá lớn nhằm tránh mối mọt.

– Nghĩa ẩn dụ: ẩn dụ ngầm nhắc đến tinh thần tự lực cánh sinh của người đồng mình. Họ đã tự mình dựng xây và nâng tầm quê hương bằng chính đôi bàn tay khéo léo và tài hoa của mình

– Trong quá trình nâng tầm quê hương đó cũng chính họ là người tạo nên phong tục, bản sắc

=> Câu thơ là sự tự hào của tác giả về những phẩm chất cao quý của người dân quê hương. Từ đó, tác giả răn dạy con phải biết tiếp nối, kế thừa và phát huy những nét đẹp trong văn hóa và phẩm chất của người đồng mình

b. Lời khuyên nhủ mà người cha nhắn tới con

Tác giả nhắc nhở con nên biết sống và tiếp nối theo những giá trị truyền thống tốt đẹp của người đồng mình:

“Dẫu làm sao thì cha vẫn muốn

Sống trên đá không chê đá gập ghềnh

Sống trong thung không chê thung nghèo đói

Sống như sông như suối 

Lên thác xuống ghềnh 

Không lo cực nhọc”

– Sử dụng điệp từ “sống” lặp lại liên tiếp 3 lần đã giúp tô đậm được mong ước lớn lao mà người cha dành cho con:

Sử dụng hình ảnh ẩn dụ và phép liệt kê những khó khăn của người đồng mình như “đá gập ghềnh” và “thung nghèo đói” có tác dụng:

– Gợi cho người đọc tưởng tượng ra một khu vực sống khắc nghiệt với địa hình hiểm trở, khó khăn cả trong làm ăn lẫn canh tác

– Từ sự khó khăn về địa lý dẫn đến những khó khăn trong đời sống. Cuộc sống người đồng mình luôn nhiều vất vả, gian khó và đói nghèo chồng chất

=> Từ đó, cha mong muốn ở con sau này lớn lên hãy biết yêu thương, gắn bó và trân trọng quê hương mình cho dù còn nhiều khó khăn, hiểm nghèo

Sử dụng hình ảnh so sảnh: “Sống như sông như suối”

– Nói lên cuộc sống bình dị, hòa hợp với thiên thiên của người đồng mình

– Nói lên lối sống trong sáng, phóng khoáng với tình cảm dạt dào như sông, như suối

=> Từ đó, người cha mong ước con mình sau này sẽ sống với một tâm hồn phóng khoáng hòa hợp với thiên nhiên

– Thủ pháp đối giữa hai hình ảnh “lên thác” và “xuống ghềnh” đã giúp người đọc liên tưởng về một cuộc sống lam lũ, nhọc nhằn, vất vả của người dân quê hương tác giả

=> Vì vậy, người cha mong con sau này phải biết đối mặt và vươn lên, làm chủ sức mạnh bản thân cho dù phải đối mặt với bao khó khăn, mệt mỏi.

=> Đoạn thơ chính là lời khuyên của cha dành con, rằng hãy tiếp nối tình cảm ân nghĩa, chung thủy với mảnh đất nơi mình sinh ra, tiếp nối cả những ý chí, nghị lực và lòng kiên cường của người đồng mình

4 câu thơ khép lại bài thơ là lời dặn dò ân cần, trìu mến và nghiêm khắc của người cha:

“Con ơi tuy thô sơ da thịt

Lên đường

Không bao giờ được nhỏ bé

Nghe con”

– Hai tiếng “lên đường” ngắn gọn, súc tích cho thấy trong con mắt của cha, người con đã khôn lớn, đã trưởng thành nhưng hoàn toàn có thể tự tin, tự lực vững bước trên đường đời

– Hình ảnh thơ “thô sơ da thịt” được lặp lại như một lời khẳng định, mục đích khắc sâu trong tâm trí con rằng: con trưởng thành mấy thì vẫn là người đồng mình, mang hình hài, vóc dáng và  dòng máu người đồng mình

– Tuy nhỏ bé về vóc dáng nhưng “không bao giờ được nhỏ bé” trong cuộc sống. Thay vào đó hãy kiên cường, giàu bản lĩnh để sẵn sàng đương đầu với những gian khó của cuộc đời

– Hai tiếng “nghe con” thiết tha đã thay cho lời kết đầy xúc động, đồng thời ẩn chứa biết bao mong muốn của người cha.

=> Với một giọng điệu thiết tha, trìu mến, người cha đã gửi gắm những lời tâm tình sâu sắc và cho con những bài học quý giá, cho con sức mạnh và triết lý sống để con mãi mãi khắc ghi trên suốt hành trình dài rộng của cuộc đời.

 Tham khảo thêm: Soạn văn 9

III. Tổng kết chung phân tích bài thơ Nói với con

1. Về nội dung

Qua bài thơ “Nói với con”, Y Phương đã thể hiện tình cảm gia đình, đồng thời ca ngợi truyền thống cần cù, sức sống mạnh mẽ của quê hương và dân tộc mình. Bài thơ là lời tâm sự, trò chuyện của người cha dành cho con ngay từ khi còn nhỏ. 

2. Về nghệ thuật

– Bằng thể thơ tự do, phóng khoáng kết hợp cùng cảm xúc chân thành, mộc mạc đã khiến lời thơ trở nên ấm áp và thân thiết. 

– Cách sử dụng hình ảnh và ngôn từ mang đặc trưng trong lối nói, diễn đạt và tư duy của người vùng cao, tạo nên sự gần gũi, thân thương

– Bài thơ với giọng điệu thơ thay đổi khi tâm tình, khi mạnh mẽ, nghiêm khắc, tạo sự dẫn dắt hợp lý trong mạch cảm xúc, rất phù hợp với lời khuyên của cha nói với con mình.

Trên đây là toàn bộ nội dung phân tích bài thơ Nói với con của tác giả Y Phương mà HOCMAI đã tổng hợp để gửi đến các bạn học sinh đang trong quá trình ôn thi vào 10. Mong rằng những nội dung trên đã giúp các bạn hiểu hơn về bài thơ, nắm vững kiến thức trước khi bước vào kỳ thi chính thức. Chúc các bạn có khoảng thời gian ôn thi thật hiệu quả!

 

Tham khảo thêm:

Phân tích bài thơ Mùa xuân nho nhỏ

Phân tích bài thơ Viếng lăng Bác