Soạn bài Luyện tập làm bài nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) chi tiết Ngữ văn 9

0
6515
soan-bai-luyen-tap-lam-bai-nghi-luan-ve-tac-pham-truyen-hoac-doan-trich

Soạn bài Luyện tập làm bài nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) là cơ sở để hình thành nên kỹ năng viết bài văn nghị luận. HOCMAI xin gửi đến các em học sinh các kiến thức trọng tâm cần nắm và và phần hướng dẫn soạn văn chi tiết qua các câu hỏi. Mời các em cùng tham khảo qua bài viết sau đây.

 

Tham khảo thêm bài viết:

 

I. Kiến thức trọng tâm cần nhớ

a) Định nghĩa

Nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) là trình bày các đánh giá, nhận xét của bản thân về các sự kiện, nhân vật, chủ đề hay nghệ thuật của một tác phẩm cụ thể.

b) Các bước làm bài nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích)

Gồm 4 bước:

  • Tìm hiểu đề và tìm ý
  • Lập dàn bài
  • Viết bài
  • Đọc lại bài viết và sửa chữa

c) Các phần của bài văn nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích)

Một bài làm nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) cần đảm bảo được đầy đủ các phần của một bài văn nghị luận:

– Mở bài: Giới thiệu tác phẩm (tùy theo yêu cầu cụ thể của đề bài) và nêu ý kiến đánh giá sơ bộ của mình

– Thân bài: Nêu ra các luận điểm chính về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm đó; có đánh giá, phân tích chung bằng cách đưa ra các luận cứ tiêu biểu và xác thực.

– Kết bài: Nêu ra nhận định, đánh giá chung của cá nhân người viết về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích)

 

II. Luyện tập

Trả lời câu hỏi: Trang 68 | SGK Ngữ văn 9 – Tập 2

Đề bài: Cảm nhận của em qua đoạn trích truyện “Chiếc lược ngà” của nhà văn Nguyễn Quang Sáng. Em hãy lập dàn ý chi tiết?

Gợi ý:

Trước khi lập dàn ý chi tiết bài viết, các em cần tìm hiểu đề và tìm ý qua các gợi ý sau đây:

– Đề bài yêu cầu nêu ra vấn đề gì? Các em cần phải chú ý đến các từ ngữ nào trong đề bài để định hướng đúng phương hướng để làm bài?

– Em có hiểu biết gì về hoàn cảnh lịch sử cụ thể về chiến tranh tại miền Nam nước ta trước đây khiến cho những người như ông Sáu phải đi xa nhà để chiến đấu và phải chịu nhiều mất mát về tình cảm gia đình?

– Nêu những ý kiến / nhận xét về hai nhân vật chính là ông Sáu và bé Thu trong đoạn trích: Những thiệt thòi, mất mát, niềm tin, sự hi sinh và nghị lực, sức chịu đựng, …

– Những đặc điểm cụ thể về tình cha con trong từng nhân vật: Tìm và phân tích các chi tiết đặc sắc về  lời nói, cử chỉ, diễn biến tâm trạng, hành động,…nhất là sự tỉ mẩn, công phu trong việc làm chiếc lược ngà cho con gái của nhân vật ông Sáu; hành động bất ngờ khi nhận ba ở giây phút chia li cuối cùng của nhân vật bé Thu để chứng minh các nhận xét của mình.

– Nghệ thuật tạo dựng tình huống, cách lựa chọn chi tiết, cách trần thuật,… của tác giả Nguyễn Quang Sáng có tác dụng khơi gợi cảm xúc như thế nào?

Dàn ý chi tiết:

(1)  Mở bài

Giới thiệu khái quát về nhà văn Nguyễn Quang Sáng, truyện ngắn Chiếc lược ngà. Cảm nhận chung về tác phẩm Chiếc lược ngà.

(2) Thân bài

a) Ông Sáu trở về thăm nhà sau nhiều năm nhưng bé Thu không chịu nhận ông là ba.

– Trong những năm tháng xa nhà, ông Sáu luôn nhớ về con, khát khao được gặp con.

– Khi được trở về nhà thăm con: Thuyền chưa kịp cập bến đã vội nhảy lên bờ gọi con.

– Nhưng ngược lại, bé Thu lại không chịu nhận ông là ba:

  • Khi mới gặp ông Sáu: “Con bé giật mình, tròn mắt nhìn. Nó ngơ ngác lạ lùng”.
  • Sau khi nhìn thấy vết thẹo dài trên má ông Sáu, nó càng sợ hãi và hoảng hốt |“mặt nó tái đi, vụt chạy rồi kêu thét lên”|.
  • Trong suốt ba ngày, con bé thể sự bướng bỉnh, nhất quyết không chịu gọi ông Sáu là ba, chỉ nói trổng: Như lúc mời ông Sáu ăn cơm, khi muốn nhờ ông chắt nước,…
  • Hất văng cái trứng cá ông Sáu gắp cho ra khỏi chén.
  • Khi bị ông Sáu đánh, nó bỏ đi sang nhà bà ngoại.

=> Bé Thu bộc lộ ra sự bướng bỉnh, ương ngạnh vừa đáng giận lại vừa đáng thương nhưng nó không đáng trách.

– Nguyên nhân:

  • Bé Thu không chịu nhận ông Sáu là ba bởi vì ông có một vết thẹo trên mặt – Trông “không giống cái hình ảnh ba chụp với má”.
  • Với độ tuổi của mình, bé Thu không thể hiểu được những khắc nghiệt của chiến tranh. Vậy mà, vết sẹo chiến tranh hằn trên gương mặt ông Sáu đã làm bé Thu không nhận ra cha mình.

=> Hậu quả chiến tranh gây ra khiến con người xót xa.

– Ông Sáu rất  thất vọng, đau lòng khi bé Thu không chịu nhận mình:

  • Lúc bé Thu chạy vụt đi, hét lên sợ hãi, hoảng hốt: Nỗi đau đớn khiến mặt … buông xuống như bị gãy.
  • Trong ba ngày nghỉ phép, càng muốn được gần gũi, yêu thương con, bé Thu lại càng lảng tránh, vô lễ và lạnh lùng. Ông lại càng đau khổ hơn (tám năm mới được gặp lại con, những ngày phép ngắn dần đi mà con không chịu nhận ba, chưa một lần được ôm con trìu mến,…)

=> Tình cảm yêu thương con vô bờ bến của một người cha.

b) Bé Thu nhận ra ba và cuộc chia tay của hai cha con

– Tình cảm thắm thiết ông Sáu dành cho con gái:

  • Lúc chia tay, ông Sáu muốn được ôm hôn con nhưng lại sợ con không chịu, ông chỉ dám nhìn con bằng đôi mắt “trìu mến lẫn buồn rầu”. Khi bé Thu nhận cha, ông Sáu đã khóc vì sự sung sướng và xúc động.
  • Lúc ở khu căn cứ trong rừng: Ông Sáu sung sướng khi tìm được một khúc ngày |“hớt hải chạy về”, “hớn hở như trẻ con được quà”|; lúc rảnh rỗi thì ông “cưa từng chiếc răng lược một cách thận trọng, tỉ mỉ và cố công như một người thợ bạc”, khắc lên dòng chữ nhỏ với bao nhiêu tình cảm của mình“Yêu nhớ tặng Thu con của ba
  • Những lúc nhớ con gái: “lấy cây lược ra ngắm nghía rồi đem mài lên tóc cho cây lược được thêm bóng, thêm mượt”, có được cây lược ông lại càng mong muốn gặp con.
  • Trong những giờ phút cuối cùng, tình cha con vẫn da diết “không đủ sức trăn trối lại điều gì, hình như chỉ có tình cảm cha con là không thể chết được”.
  • Ông gửi cây lược cho đồng đội nhờ đưa lại cho con, lúc ấy ông mới nhắm mắt xuôi tay.

– Tình cảm mà bé Thu dành cho ba:

  • Trước lúc ông Sáu ra đi, bé Thu gọi tiếng ba đầu tiên, xé lòng như đang thét lên: “Ba…a…a… Ba!”. Tiếng “ba” mà Thu cố đè nén trong bao nhiêu năm nay, tiếng ba như vỡ tung từ tận đáy lòng nó.
  • Nó vừa kêu, “vừa chạy xô tới”, “dang tay ôm chặt cổ, nó hôn ba nó cùng khắp, nó hôn tóc, hôn cổ, hôn vai và hôn cả vết sẹo dài trên má ba nó nữa”, “dang cả hai chân rồi câu chặt lấy ba nó” (muốn níu giữ ba nó ở lại), khóc mếu máo cùng với lời dặn “ba mua cho con một cái lược, nghe ba”.

c) Ông Sáu hy sinh ở chiến trường và chuyện chiếc lược ngà

– Ông Sáu ở chiến trường nhớ thương con không nguôi, ân hận vì đã trót đánh nó. Ông mang tất cả tình yêu thương của mình để tự tay làm ra chiếc lược ngà dành tặng con như lời ông đã hứa khi chia tay.

– Trước khi hi sinh, ông Sáu vẫn cố dồn chút sức lực cuối cùng để gửi gắm chiếc lược lại nhờ đồng đội trao đến tận tay cho con gái ông.

– Bé Thu khi lớn lên đã đi tiếp con đường của cha như để nối dài mãi mãi tình cha con bất tử.

(3) Kết bài

Nêu cảm nhận của chính bản thân em về truyện ngắn Chiếc lược ngà.

 

Trên đây là nội dung đầy đủ và chi tiết phần Hướng dẫn Soạn bài Luyện tập làm bài nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) trong Ngữ văn 9 tập 2. Chúc các em học sinh chuẩn bị bài soạn văn tại nhà của mình thật tốt!